GuidePedia

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Chữa cảm phong hàn và cảm phong nhiệt

By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:15
  • Share The Gag
  • Bài thuốc chữa cảm phong hàn và cảm phong nhiệt
    Trong Đông y, cảm cúm được chia làm 2 loại gồm cảm phong hàn và phong nhiệt. Cảm phong hàn hay có tên gọi khác là cảm mạo, đa số mắc phải bệnh này ở cả bốn mùa nhưng vào mùa đông xuân, tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn, người cao tuổi và trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh hơn. Một loại cảm nữa là cảm phong nhiệt, là loại cảm ở mức độ nặng hơn có tinh nhiệt. Bệnh thường gặp khi khí hậu trái mùa và dễ lây lan thành dịch.
    Một số phương pháp dân gian dưới đây sẽ giúp chúng ta phòng trị bệnh.

    Cảm mạo phong hàn

    Biểu hiện mà người bệnh cảm mạo phong hàn mắc phải là sốt, sợ gió, sợ lạnh, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, không ra mồ hôi, lưỡi mọc rêu trắng. Khi người bệnh có vấn đề về xương khớp thì toàn thân đau mỏi, đau nhức các cơ. Bài thuốc dưới đây sẽ giúp trị chứng cảm mạo.

    Bài 1:

    • 80g lá tía tô
    • 8g cà gai
    • 80g hương phụ
    • 40 g trần bì
    Tất cả đêm phơi khô rồi tán thành bột. Hằng ngày lấy 20g pha với nước nóng để uống.

    Bài 2: 

    • 8g hương phụ
    • 80g tử tô
    • 40g trần bì
    • 20g cam thảo
    Đem phơi khô tất cả 4 vị trên rồi tán bột. Pha 12g bột đã tán với nước nóng uống hằng ngày.

    Bài 3:

    • 6g ma hoàng
    • 8g hạnh nhân
    • 4g quế chi
    • 4g cam thảo
    4 vị này kết hợp thành 1 thang thuốc, ngày uống 1 thang. Đây gọi là phép ma hoàng thang gia giảm.

    Bài 4: 

    Khi người bệnh có thêm các triệu chứng như đau người, nhức mỏi khớp thì có thể dùng bài thuốc sau: sài hồ, phục linh, tiền hồ, cát cánh, xuyên khung, khương hoạt, độc hoạt, tiền hồ, kinh giới, chỉ xác, phòng phong. Mỗi loại 40g kết hợp với 20g cam thảo, tán bột rồi lấy 12g pha với nước nóng để uống.
    Nấu nồi xông: Dùng một số loại lá như dâu, bưởi, kinh giới, bạc hà, lá tre, duối, sả và tía tô nấu thành một nồi nước để xông.

    Cảm phong nhiệt

    Triệu chứng điển hình: không sợ lạnh nhưng người bệnh sợ gió, ra nhiều mồ hôi, đau đầu, khô miệng và mũi, có ho kèm đờm, bị chảy máu cam, lưỡi rêu vàng, mạch phù sác.

    Bài 1:

    • 8g thanh hao
    • 40g cà gai
    • 40g địa liền
    • 80g kinh giới
    • 40g tía tô
    • 20g gừng
    • 80g kim ngân
    Tán bột pha nước uống 15 – 20g một ngày.

    Bài 2:

    • 40g lá dâu
    • 6g liên kiều
    • 4g cúc hoa
    • 8g hạnh nhân
    • 6g rễ sậy
    • 4g cam thảo
    8g cát cánh. Sắc tất cả lên uống, 1 – 2 thang thuốc một ngày.

    Bài 3:

    • 40g kim ngân
    • 24g cát cánh
    • 24g bạc hà
    • 4g lá tre
    • 20g cam thảo
    • 16g kinh giới
    • 24g ngưu bàng tử
    • 40g liên kiều, 20g đậu xị
    Tán những vị trên thành bột, uống 2 – 3 lần một ngày, mỗi lần uống 20g.
    Trên đây là những bài thuốc dân gian quý trị chứng cảm mạo, cảm nhiệt. Khi thấy cơ thể có những biểu hiện mệt mỏi, khó chịu… nên chú ý và dùng các bài thuốc này.

    Món ăn – Bài thuốc giúp trị xơ vữa mạch vành

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:11
  • Share The Gag
  • Món ăn bài thuốc giúp trị xơ vữa mạch vành
    Xơ vữa mạch vành là do rối loạn chuyển hóa lipit trong cơ thể, làm cho thành mạch dày lên và xơ cứng, lâu dần thành mạch bị mất tính đàn hồi và hẹp lòng mạch làm cản trở tuần hoàn. Chứng bệnh này thường gặp ở những người trung và cao tuổi. Với lối sống như hiện nay kết hợp với cách ăn uống không lành mạnh thì bệnh xơ vữa mạch vành đang ngày một tăng lên. Trong Đông y thì chứng bệnh này được sếp vào phạm vi chứng tâm thống.
    Triệu chứng thường gặp của bệnh xơ vữa mạch vành thường là: đau trong lồng ngực, khó thở, hồi hộp, thường mất ngủ lo âu, ngủ không ngon giấc. Cơn đau do xơ vữa mạch vành gây ra thường đau đột ngột, đặc biệt thường xuất hiện khi làm việc gắng sức, bị nhiễm lạnh, ăn quá no hoặc do tinh thần bị kích động. Sau đây là một số bài thuốc Đông y được sử dụng để hỗ trợ điều trị bệnh xơ vữa mạch vành.

    Bài 1

    Bài thuốc này là sự kết hợp của 14 loại thảo dược trong Đông y. Nó có tác dụng hoạt huyết thông mạch và chống co thắt.
    Các loại thảo dược được dùng trong bài thuốc này bao gồm: xuyên khung 10g, ích mẫu 12g, phục thần 10g, lạc tiên 16g, long nhãn 12g, đại táo 10g, đinh lăng 16g, hoàng kỳ 12g, tang diệp 20g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 14g, hà thủ ô 16g, cam thảo 12g.
    Bệnh nhân nên sắc 1 thang chia thành 3 lần uống trong ngày.

    Bài 2

    Bài thuốc này được kết hợp từ các loại thảo dược sau: 15g cát căn, 10g tầm sen, 16g hắc táo nhân, 20g tang diệp, 20g bồ công anh, 16g hà thủ ô, 4g đại hoàng, 15g đương quy, 12g thục địa, 15g ngũ gia bì, 12g ích mẫu, 10g cam thảo, 10g hồng hoa, 20g tô mộc. Sau khi kết hợp các vị trên thành 1 thang thuốc thì người bệnh nên sắc ngày 1 thang chia làm 2 lần uống sẽ có tác dụng hoạt huyết thông mạch và chống co thắt.

    Bài 3

    Bài thuốc này là sự kết hợp của 13 loại thảo dược khác nhau. Theo Đông y thì bài thuốc có tác dụng hoạt huyết, dưỡng tâm, chống co thắt mạch vành.
    Các loại thảo dược được sử dụng bao gồm: xuyên khung 10g, đương quy 16g, đinh lăng 20g, bạch thược 12g, thục địa 12g, liên nhục 16g, tâm sen 10g, lạc tiên 20g, cát căn 20g, trúc diệp 16g, tô mộc 20g, cam thảo 10g, huyết đằng 12g.
    Với bài thuốc này bệnh  nhân nên sắc mỗi ngày 1 thang chia làm 3 lần uống. Nên uống liên tục trong nhiều ngày để phát huy tác dụng.

    Ngoài các bài thuốc Đông y giúp hỗ trợ điều trị bệnh xơ vữa mạch vành thì bệnh nhân nên kết hợp với các món ăn sau để tăng hiệu quả điều trị.

    Cháo chim bồ câu- táo nhân:

    Là món ăn được kết hợp giữa chim bồ câu và táo nhân. Chim bồ câu có tác dụng bồi bổ ngũ tạng, lưu thông huyết mạch còn táo nhân sao đen lại có tác dụng dưỡng tâm an thần. Món ăn này vừa thơm ngon vừa được dùng để cải thiện tâm khí, tốt cho người hay hoảng hốt, lo âu, tâm thần hao tán, đau vùng ngực, khó thở, giúp cho người bệnh có giấc ngủ ngon.
    Cách chế biến: Chim bồ câu 1 con vặt lông loại bỏ ngũ tạng, băm nhỏ nêm gia vị sau đó cho vào xào chín kỹ, dùng 80g gạo tẻ đãi sạch nấu thành cháo. Táo nhân 20g sao đen tán bột mịn. Khi cháo nhừ thì cho chim bồ câu đã xào và táo nhân đã tán bột vào trộn đều, đun sôi lại là được.

    Cháo tim lợn, lạc tiên:

    Nguyên liệu bao gồm: 1 quả tim lợn, 80g gạo tẻ, 40g lạc tiên phơi khô, gia vị vừa đủ.
    Cách chế biến: Lạc tiên cho vào ấm nấu sôi khoảng 20 phút thì chắt lấy nước bỏ bã. Dùng nước luộc lạc tiên để hầm gạo thành cháo cho chín kỹ. Tim lợn thát lát mỏng ướp  gia vị rồi xao chín, sau đó cho vào cháo đun sôi lại là được. Món ăn này nên ăn nóng chia làm 2 lần ăn sáng và chiều trong ngày.
    Công dụng: Tim lợn có tác dụng bổ tâm huyết, lạc tiên có tác dụng an thần. Vì vậy món ăn này rất tốt cho người bị đau ngực, hồi hộp lo âu, rạo rực, thiếu máu cơ tim, giấc ngủ không ngon.

    Món ăn giúp cải thiện trí nhớ

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:04
  • Share The Gag
  • Trí nhớ của chúng ta phụ thuộc vào các tế bào não. Đôi khi các tế bào não bị tổn thương hoặc bị lão hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng ghi nhớ của con người. Đặc biệt khi về già các tế bào não có xu hướng bị lão hóa, do đó những người cao tuổi thường có trí nhớ giảm sút. Não cần phải được cung cấp đủ chất, có một số món ăn giúp cải thiện trí nhớ, tốt cho trí não. Với các nguyên liệu dễ mua, dễ chế biến các bà nội trợ nên cho các món ăn này vào thực đơn gia đình mình nhé.

    Tôm đất hầm hạt sen

    Nguyên liệu để chế biến bao gồm: 120g tôm đất bóc vỏ, làm sạch, 150g hạt sen khô, 1 bìa đậu phụ.
    Cách chế biến: Tôm đất ướp gia vị mắm muối, tiêu, hành, đường, nước mắm vừa đủ khoảng 20 phút. Hạt sen rửa sạch, đậu phụ cắt miếng vừa ăn. Phi thơm hành tỏi cho tôm và xòa sơ qua, cho 1 ít nước lọc vào bỏ thêm hạt sen, đậu phụ vào hầm chín. Cho thêm chút hành, ngò vào cho thơm
    Công dụng: theo Y học cổ truyền thì hạt sen có tác dụng ích thận, cổ tinh, dưỡng tâm an thần rất tốt. Do đó món ăn này được kết hợp các nguyên liệu tôm, hạt sen và đậu phụ sẽ giúp dưỡng tâm an thần, cải thiện trí nhớ và có tác dụng bồi bổ cơ thể.

    Cật heo xào câu kỷ tử với cần tây

    Với các nguyên liệu cực kỳ dễ mua như cật heo, câu kỷ tử và cần tây bạn có thể chế biến cho gia đình một món ăn vừa ngon miệng vừa giúp cải thiện trí nhớ cho thành viên trong gia đình.
    Cách chế biến: dùng 100g cật heo, làm sạch cách thành miếng sau đó ướp gia vị mắm, muối, tiêu, hành băm nhuyễn trong khoảng 20 phút. Dùng dầu ăn xào qua cật heo, thêm 15g câu kỷ tử cùng chút nước tiếp tục xào cho tới khi cật heo gần chín thì cho cần tây vào. Đảo nhanh tay đến khi cật heo chín là được.

    Ức gà hầm câu kỷ tử và nhân sâm

    Theo Đông y thì câu kỷ tử có tác dụng bổ can thận, nhân sâm có tác dụng bồi bổ cơ thể chống lão hóa. Vì vậy món ăn này vừa kết hợp câu kỷ tử và nhân sâm có tác dụng tốt trong những trường hợp giảm trí nhớ, trường hợp cơ thể suy yếu cần bồi bổ.
    Cách chế biến: 150 ức gà thái mỏng. Ướp ức gà bằng hỗn hợp gia vị(bột nêm, nước tương, hành băm nhuyễn, đường) trong thời gian 20 phút. Bắc nồi lên bếp, thêm vào 2 muỗng canh dầu ăn, phi hành lên cho thơm. Xào sơ ức gà. Cho 15g câu kỷ tử, 12g nhân sâm vào. Chế thêm chút nước. Hầm với lửa nhỏ. Khi gà chín, thêm chút hành, ngò vào.

    Trứng hấp với rau chân vịt

    Đây là món ăn vô cùng đơn giản và dễ làm, được kết hợp giữa các nguyên liệu thường có sẵn trong gai đình chúng ta đó là trứng và rau chân vịt. Theo Y học cổ truyền thì rau chân vịt là loại rau rất tốt cho sức khỏe bởi nó chưa nhiều vitamin và khoáng chất đặc biệt có hàm lượng vitamin E và selen tương đối cao có tác dụng chống lại sự oxy hóa của tế bào thần kinh. Theo nghiên cứu trứng lại giàu chất lecithin khi bị phân giải trong cơ thể sẽ tạo thành chất acetylcholine hết sức quan trọng cho trí nhớ. Vì vậy món ăn trứng hấp với rau chân vịt được biết đến với công dụng hết sức có lợi cho trí nhớ.
    Cách chế biến: Dùng khoảng 100g rau chân vịt, rửa sạch thái nhỏ sau đó cho vào 3 quả trứng đánh tan, hấp chín là dùng được.
    Trứng chim bồ câu chưng với long nhãn, câu kỷ tử.
    5 trứng chim bồ câu, luộc chín, bóc vỏ cho vào tô cùng với 15g câu kỷ tử, 15g long nhãn. Thêm tí nước, và chưng cách thủy. Theo YHCT, long nhãn bổ tâm tỳ, kiện não ích trí. Trứng chim bồ câu có tác dụng dưỡng tâm.

    Cá hồi sốt nấm

    Cá hồi là loại có có hàm lượng omega-3 tương đối cao có tác dụng chống oxy hóa tế bào thần kinh, giúp ích cho trí nhớ.
    Nguyên liệu bao gồm: 150g cá hồi, 80g nấm rơm, gia vị vừa đủ, bột năng.
    Cách chế biến: Cá hồi thái lát rửa sạch ướp gia vị bột nêm, hành, tiêu, đường trong vòng 10 phút sau đó nướng chín cho ra đĩa. Nấm rơm ngâm với nước muối loãng, sau đó vớt ra rửa sạch xào với một ít hành tỏi băm. Dùng bột năng  chế thêm ít nước quấy đều sau đó chế nước bột năng vào chảo nấm. Khi nấm chín thêm một ít bột nêm, dùng nước này rưới đều lên cá hồi đã được nướng chín trước đó. Thêm hành, ngò, tiêu vào dùng khi đang nóng.

    8 món cháo dành cho người bị đái tháo đường

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:03
  • Share The Gag
  • Bệnh đái tháo đường là bệnh khá phổ biến hiện nay. Để điều trị tốt bệnh đái tháo đường bên cạnh việc dùng thuốc thì bệnh nhân cần phải có một chế độ ăn uống hợp lý. Từ xưa đến nay, chữa bệnh đài tháo đường bằng đường ăn uống được coi là cách chữa bệnh cơ bản, người bệnh cần ăn kiêng theo chỉ định của bác sỹ nhằm kiểm soát lượng đường trong máu ở mức ổn định.
    Sau đây bài viết xin chia sẻ với bạn độc một số món cháo giúp cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể vừa có tác dụng chữa bệnh đái tháo đường.

    1. Cháo bột sắn

    Loại cháo này sẽ có tác dụng tốt đối với những người tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường tuýt II, tiêu chảy mạn tính và khát miệng khô họng. Dùng 50g gạo tẻ, đãi sạch nấu thành cháo đặc, sau đó cho thêm 30g bột săn vào quấy đều. Thêm gia vị vừa ăn.

    2. Cháo địa cốt bì

    Nguyên liệu chế biến bao gồm: 30g địa cốt bì, 15g mỗi loại tang bạch bì và mạch đông, 100g bột miến dong.
    Cách chế biến: đem địa cốt bì, tang bạch bì, mạch đông đem sắc lấy nước, sau đó dùng nước này nấu với bột miến dong thành cháo là dùng được.

    3. Cháo rau cần tây

    Cần tây tươi 60g, gạo tẻ 50 – 100g. Cần tây tươi rửa sạch thái nhỏ đem nấu với gạo tẻ thành cháo, thêm gia vị, ăn nóng, sáng và chiều. Chỉ định cho các trường hợp tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường.

    4. Cháo khoai lang

    Khoai lang là một trong những loại thực phẩm đứng top đầu trong các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Món cháo khoai lang được biết đến là món ăn dành cho những người bị đái tháo đường có tỳ vị hư nhược. Cách chế biến vô cùng đơn giản dùng 60g khoai lang và 30g gạo kê nấu thành cháo. Món này nên dùng để ăn sáng. Món ăn này cũng là một trong những món ăn chữa bệnh táo bón rất tốt, đcặ biệt có thể làm món ăn dặm cho trẻ em.

    5. Súp bào ngư củ cải cà rốt

    Không chỉ là món ăn ngon miêng, bồi bổ cơ thể mà món ăn súp bào ngư củ cải cà rốt còn được dùng trong các trường hợp sốt nóng, ho khan, suy nhược cơ thể, bệnh đái tháo đường.
    Cách chế biến: dùng 20g bào ngư khô hoặc 60g bào ngư tươi, 100g củ cải, 100g cà rốt, có thể thêm tôm nõn hoặc thịt nạc cho ngon miệng nấu thành súp. Nêm gia vị cho vừa ăn. Món này có thể ăn hàng ngày hoặc cách 2-3 ngày lần.

    6. Nước bột đậu xanh

    Đậu xanh 200g, cho thêm nước, nấu chín nhừ, lọc qua vải xô lấy nước, uống sáng tối, mỗi lần 1 chén. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

    7. Cháo thục đại nhục quế

    Nguyên liệu bao gồm: 3g nhục quế, 10g thục địa hoàng, 100g gạo tẻ, 30g rau hẹ.
    Cách chế biến: dùng nhục quế, thục địa hoàng, gạo tẻ nấu thành cháo loãng. Khi cháo chín cho thêm rau hẹ và gia vị vừa ăn.
    Món cháo này có tác dụng cho bệnh nhân đái tháo đường, di niệu, u xơ tiền liệt tuyến.

    8. Cháo ý dĩ

    Ý dĩ nấu cháo, cho ăn thường ngày. Dùng cho các bệnh nhân đái tháo đường khát nhiều, uống nhiều.
    Bên cạnh việc điều chỉnh chế độ ăn cho hợp lý thì các bệnh nhân đái tháo đường cũng cần có chế độ luyện tập thể dục hợp lý. Bệnh nhân nên thường xuyên vận động, uống nhiều nước, hạn chế ăn chất béo và chất ngọt.

    Kháng sinh thiên nhiên : cây hẹ

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:01
  • Share The Gag
  • Cây hẹ có nhiều tác dụng chữa bệnh bạn không ngờ tới
    Chỉ là một cây gia vị rẻ tiền nhưng hẹ lại nắm giữ nguồn kháng sinh tự nhiên nên trị được nhiều bệnh mà chẳng lo mệt mỏi, kháng thuốc.

    Từ cây dại thành gia vị trợ tiêu hóa

    Mọc dại ở vùng Trung và Bắc Á, cây hẹ ngày nay đã được thuần hóa gieo trồng, phát triển quanh năm. Đông y gọi hẹ là cửu thái, khởi dương thảo, có vị cay, tính ấm, bổ dương, tán huyết, giải độc, cầm máu, tiêu đờm… Sách “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh dùng hẹ trong nhiều bài thuốc trị tiểu dầm, ho, cảm, thổ tả, lên cơn suyễn đột ngột…
    Đông y Trung Quốc cho hẹ là bài thuốc trợ tiêu hóa rất tốt, hiện nay chúng được trồng và thu hoạch phổ biến để đưa về các nhà máy chế biến làm gia vị khô. Người châu Âu và châu Mỹ cũng sử dụng hẹ làm gia vị trong món salad với tên gọi “tỏi thơm” để tránh tình trạng đầy bụng, ợ hơi và trị tiêu chảy vì có chất kháng sinh mạnh.

    Kháng sinh mạnh hơn penicillin

    Thành phần của hẹ chứa các hoạt chất kháng sinh mạnh như allcin, odorin, sulfit mạnh hơn cả kháng sinh penicillin, chống được tụ cầu và nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus hemolyticus, Salmonella tryphi, Shigella flexneri, Shigella shiga, Coli bethesda, Bacillus subtilis…
    Nhờ vậy chúng có thể chữa được ngứa ghẻ, chín mé, nhiễm trùng da bằng cách đắp lá giã nhỏ lên vết thương; tiện lợi trong việc trị giun kim cho trẻ mà không sợ tác dụng phụ của thuốc tân dược. Trường hợp viêm lợi đau nhức cũng có thể dùng hẹ để kháng viêm, diệt khuẩn bằng cách giã nát và ngậm trong miệng. Trẻ em bị viêm tai có thể lấy nước lá hẹ nhỏ vào để diệt vi khuẩn.
    Kháng sinh trong lá hẹ cũng diệt được trùng roi âm đạo nên chúng cũng trở thành bài thuốc phụ khoa hữu hiệu cho chị em hay tiết dịch âm đạo, viêm nhiễm, khí hư. Trong trường hợp này, phụ nữ có thể dùng bằng cách uống nước lá và rửa ngoài âm đạo.

    Long đờm trị ho

    Hẹ có thành phần saponin có tác dụng long đờm. Kết hợp với thành phần kháng sinh, hẹ trở thành vị thuốc tốt cho những người hen suyễn, khò khè có đờm, ho do lạnh, nhiễm khuẩn. Dược tính này của hẹ gần với tỏi nhưng lại ít hắc hơn nên dễ dùng cho trẻ nhỏ. Khi cho trẻ uống nước lá hẹ thì ngoài trị ho, giun kim, còn trị được chứng tiểu dầm, hay đổ mồ hôi trộm, viêm hô hấp trên.

    Tăng nhạy cảm insulin

    Lá hẹ giàu chất xơ lại có tác dụng tăng tính nhạy cảm của tế bào với insulin nên chúng tốt cho bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin. Chúng làm giảm đường huyết, giảm mỡ máu, ngừa xơ mỡ động mạch, bảo vệ tuyến tụy. Bệnh nhân đái tháo đường nên dùng lá hẹ nấu canh hoặc làm gia vị hàng ngày.

    Lưu ý khi dùng hẹ

    • Hẹ kỵ với mật ong nên nếu muốn nước hẹ ngọt, dễ uống thì chỉ thêm đường phèn, tránh dùng mật.
    • Một số hoạt chất trong hẹ dễ bay hơi, phân hủy nên chỉ dùng nước hẹ tươi hoặc hấp chín, không sắc hoặc đun sôi kỹ vì sẽ làm giảm tác dụng của các hoạt chất.
    • Toàn thân hẹ đều có dược tính nên khi dùng làm thuốc, tốt nhất dùng cả hoa, lá và rễ. Hẹ thu hoạch quanh năm nhưng mùa xuân dược tính cao hơn.

    Những cây cỏ có khả năng cầm máu tốt

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 01:00
  • Share The Gag
  • Cẩm máu bằng cây cỏ quanh ta
    Chảy máu là nguy cơ thường trực mà chúng ta phải đối mặt hàng ngày: chảy máu do vận động, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, đi ngoài ra máu… Tuy nhiên bạn có thể bớt lo nếu mắc các chứng trên bởi đã có rất nhiều cây cỏ quanh ta có khả năng cầm máu tốt. Dưới đây là vài ví dụ

    Mộc nhĩ chữa đại tiện xuất huyết

    Nhìn chung các loại mộc nhĩ đều có công năng làm mát máu và cầm máu, dùng rất tốt trong các trường hợp băng huyết, đại tiện xuất huyết. Mộc nhĩ mọc ở cây dâu dùng chữa băng huyết, rong kinh, hành kinh không dứt nhiều tuần bằng cách lấy mộc nhĩ dâu sao đen, tán nhỏ, uống mỗi lần 3-5 thìa. Ngày uống 3-4 lần.
    Nếu đi lỵ ra máu, lấy mộc nhĩ 20g, sao tán bột uống, chia 3 lần trong ngày. Để chữa đại tiện ra máu, táo bón, dùng mỗi lần 5g mộc nhĩ bồ kết tán vụn. Nếu chưa đỡ, uống thêm 3-4 lần sẽ khỏi.

    Trắc Bách Diệp ngăn chảy máu chân răng

    Trắc bách diệp là một loại cây cảnh, cành non và lá của nó thường được sử dụng cầm máu tức thời rất tốt. Trắc bách diệp được thu hái quanh năm, tốt nhất vào tháng 3-5, rửa sạch, phơi trong râm hoặc sấy nhẹ cho khô để bảo đảm phẩm chất. Khi dùng, để sống hoặc sao đen. Thuốc có vị đắng chát, hơi hàn, giúp cầm máu trong những trường hợp sau:
    – Ho ra máu, thổ huyết: Trắc bách diệp (sao cháy đen)+ ngải cứu 30g; can khương đã sao vàng 6g, sắc uống mỗi ngày 1 lần. – Chảy máu chân răng: Trắc bác diệp, hoàng liên, a giao mỗi vị 12g; thạch cao 20g; sinh địa, thiên môn mỗi vị 16g sắc uống sẽ khỏi. Sốt xuất huyết: Trắc bách diệp, rễ cỏ tranh, cỏ nhọ nồi mỗi vị 16 g; lá tre, hạ khô thảo mỗi vị 20g, sắc uống trong ngày.
    – Trĩ ra máu: Trắc bách diệp, hoa kinh giới, hoa hòe, chỉ xác (lượng bằng nhau). Tất cả phơi khô, giã nhỏ. Ngâm nước nóng, chắt lấy nước uống trước bữa ăn 30phút.

    Cỏ mực chữa chảy máu mũi

    Người ta còn gọi nó là cây nhọ nồi, tính lạnh, vị ngọt chua, không độc, dân gian thường lấy lá giã nát đắp vào chỗ chảy máu ngoài da. Bên cạnh đó cỏ mực được dùng cầm máu trong các bệnh như: xuất huyết trong (chảy máu dạ dày, tiểu tiện ra máu, thổ huyết do lao, rong kinh), kiết lỵ, viêm gan mạn, chấn thương sưng tấy lở loét, mẫn ngứa (uống trong, rửa ngoài).
    Để chữa chứng chảy máu mũi, lấy cỏ mực giã nát, đắp vào giữa mỏ ác và trên trán là khỏi.
    Lưu ý:
    • Tránh dùng cỏ mực khi bị lạnh trong, tiêu chảy.
    • Không dùng cho phụ nữ có thai vì nó có thể gây xảy thai do chất chống đông trong cỏ mực.

    Hoa hòe chống xuất huyết não

    Hiện nay, hoa hòe không những được dùng trong Đông y mà còn là một nguồn dược liệu quan trọng của ngành dược hiện đại. Từ hoa này người ta đã chiết xuất được chất rutin có tác dụng làm tăng sức chịu đựng và giảm sự thẩm thấu của các mao mạch, để sản xuất nhiều vị thuốc phòng và chữa các chứng xuất huyết, tai biến mạch máu não ở người tăng huyết áp.
    Nụ hoa hòe chưa nở là bộ phận quý nhất của cây vì lúc này hoa có hàm lượng rutin cao nhất. Vì vậy bao giờ người ta cũng thu hoạch hoa hòe vào lúc có nhiều nụ to, chưa nở hoa, trọng lượng và chất lượng dược liệu sẽ cao hơn. Trong nhân dân, hoa hòe được dùng chủ yếu làm thuốc cầm máu trong các bệnh ho ra máu, chảy máu cam, tiểu tiện ra máu, ruột chảy máu…
    Liều dùng mỗi ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc. Hoa hòe còn được dùng để nhuộm màu thực phẩm (tạo màu vàng), vừa đẹp vừa lành. Pha nước hoa hòe vào rượu, rượu sẽ có màu vàng cam. Ngâm gạo nếp với nước hoa hòe để nấu xôi hay cho vào bột làm bánh, các món ăn trên sẽ có màu vàng nghệ tươi nom rất hấp dẫn, lại tốt cho sức khỏe.

    Hoa sò huyết chống viêm

    Hoa sò huyết thuộc họ thài lài, còn gọi là lẻ bạn, được trồng làm cảnh ở nhiều nơi. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành tán bao bọc bởi hai mo úp vào nhau hình giống như con sò, hoa màu trắng vàng, được thu hái vào tháng 4-5, dùng tươi hoặc phơi khô. Ngoài ra người ta còn dùng lá, chống viêm, cầm máu, nhuận phế, giảm ho, giải độc.
    • Chữa ho ra máu, đi ngoài ra máu: Hoa sò huyết 30-40g, để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống hoặc phơi khô, sắc lấy nước đặc uống một lần.
    • Chữa đái ra máu: Hoa sò huyết 15g, diếp cá 15g, rau má 20g, rễ cỏ tranh 10g, râu ngô 10g. Tất cả để tươi, sắc uống ngày một thang.

    Ngó sen rịt máu mũi

    Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, ngó sen được dùng với tên thuốc là liên ngẫu, có vị ngọt, hơi sít do chất nhựa, tính mát, lành. Dược liệu để sống thì hàn, nấu chín thì ôn, có tác dụng cầm máu là chủ yếu, bổ huyết và điều kinh.
    Để chữa chảy máu cam, lấy ngó sen 30g (có thể dùng riêng hoặc phối hợp với lá hẹ, lượng bằng nhau) để tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào lỗ mũi, máu sẽ cầm ngay.

    Cây tơ mành giúp lành vết thương

    Đây là một loại cây tầm gửi, mọc thành bụi, có thân cành vươn dài dựa vào cây khác, màu xám phủ lông mịn. Lá mọc đối, hai mặt có lông. Khi bẻ thân và lá thấy có những sợi mảnh như tơ.
    Theo kinh nghiệm dân gian, cây tơ mành có tác dụng cầm máu trong trường hợp vết thương nhỏ, chảy máu như đứt tay, xước da, lấy lá rửa sạch, giã nát, rịt ngay vào vết thương rồi buộc chặt. Có thể dùng lá tơ mành phơi khô, đốt thành than, tán bột và rắc vào vết thương. Lá tơ mành nếu phối hợp với lá cây quyển bá, giã đắp, tác dụng cầm máu sẽ nhanh hơn.
    Hoặc trường hợp nặng hơn, bị gãy xương, lấy lá tơ mành và lá dâu tằm (1 kg), giã nát, xào nóng rồi đắp bó sẽ rất nhanh lành.

    Rễ cỏ tranh: Vị thuốc quý giải độc gan, bổ thận

    By: Trẻ Tự Kỷ On: 00:58
  • Share The Gag
  • Cỏ tranh và tác dụng thanh nhiệt giải độc
    Có lẽ bất kỳ ai trong chúng ta đều đã một lần thử một cốc nước sâm mát lạnh trong những ngày hè nóng nực. Nhưng ít ai biết một trong những nguyên liệu làm ra nó lại chính là rễ cỏ tranh, một loại cây dại mà trước đây vẫn bị xem như là “kẻ thù của nhà nông”. Và lợi ích của nó không dừng lại ở một cốc nước sâm giải nhiệt.

    Vị thuốc quý từ 2.000 năm trước

    Những xe nước sâm lạnh bên đường từ lâu đã là hình ảnh quen thuộc của đường phố Sài Gòn và những cốc nước sâm ngọt mát đã đi vào ký ức của mỗi người khi nghĩ đến thành phố nhiệt đới nhiều nắng, sôi động này. Không chỉ mang lại thu nhập cho các hàng nước giải khát, những cốc nước sâm lạnh còn là nguồn sống của không ít người dân mưu sinh bằng nghề đào rễ cỏ tranh.
    Một người dân sống tại P.15, Q.8, Tp.HCM, nơi có gần 40 hộ dân sinh sống bằng nghề đào rễ tranh hàng chục năm nay cho biết: “Rễ cỏ tranh có nhiều đốt như đốt mía và có vị ngọt. Nước nấu từ rễ cỏ tranh giúp thông tiểu, giải nhiệt, giải khát, giải độc. Còn khi nấu cùng với mía lau, rau bắp thì sẽ thành nước sâm, vẫn bán ở hè phố”.
    Rễ cỏ tranh màu từ trắng ngà đến vàng nhạt, có nhiều đốt, xung quanh có các lá vẩy và rễ con. Trong rễ tranh có 18% là đường (cả đường glucose và fructose), đó là lý do vì sao rễ loại cây này lại có vị ngọt; cùng với các loại acid citric, malic, tartatric, oxalic, triterpene methylethers, arundoin và cylindrin.
    Chẳng phải đến bây giờ người ta mới biết đến những lợi ích của nó, rễ cỏ tranh đã được dùng làm thuốc từ 2.000 năm trước và là vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Ngoài ra nó còn có mặt trong rất nhiều cuốn y thư cổ khác như Danh y biệt lục, Bản thảo kinh sơ, Đắc phổi bản thảo, Bản thảo cầu chân. Cỏ tranh có ở nhiều quốc gia và ở mỗi nước, nó lại được dùng để chủ trị các loại bệnh khác nhau. Ở Cambodia, rễ tranh được kết hợp với vài loại thảo mộc khác để trị bệnh trĩ. Ở Trung Quốc, rễ loại cây này được dùng để hạ sốt, trị nôn mửa, phù thủng. Còn người châu Phi lại dùng cỏ tranh để trị bệnh lậu và các rắc rối ở đường tiết niệu.
    Khi dùng làm thuốc, bạn phải cắt bỏ phần rễ nằm trên mặt đất, chỉ lấy phần rễ nằm dưới mặt đất, bổ sạch bẹ, lá, rễ con. Đông y gọi rễ cỏ tranh là mao căn. Từ rễ cỏ tranh nguyên bản, tùy theo cách bào chế và mục đích chữa bệnh, vị thuốc này có thêm những tên gọi khác nhau. Rễ cỏ tranh tươi, rửa sạch, thái nhỏ thì được gọi là sinh mao căn. Rễ cỏ tranh tẩm nước cho mềm rồi cắt thành đoạn, phơi khô, sàng bỏ chất vụ thì được gọi là bạch mao căn. Lấy bạch mao căn cho vào nồi sao cho thuốc chuyển sang màu đen, bỏ ra phơi khô thì được mao căn thán.

    Mát gan, lợi thận

    Theo Đông y, rễ cỏ tranh vị ngọt, tính hàn nên có tác dụng thanh nhiệt, giải khát rất tốt. Nó còn giúp tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện, thanh phế vị nhiệt; chủ trị các chứng như chảy máu cam, tiểu ra máu, bí tiểu.
    Còn theo y học hiện đại thì rễ cỏ tranh có tác dụng làm đông máu nhanh, bột mao căn làm rút ngắn thời gian hồi phục calci của huyết tương ở thỏ thực nghiệm. Về tác dụng lợi tiểu, y học hiện đại đã chứng minh bằng các thí nghiệm trên thỏ. Y học hiện đại cho rằng tác dụng này có liên quan đến hệ thần kinh hoặc do thuốc có chứa muối kali. Ngoài ra thuốc sắc từ rễ cỏ tranh còn có tác dụng ức chế vi khuẩn, mà cụ thể là khuẩn Flexner và Sonnei gây ra bệnh kiết lỵ ở người. Nhưng có lẽ, tác dụng được nhiều người nhắc đến nhất ở loại thảo dược này chính là hỗ trợ điều trị bệnh thận.
    Lương y Huyên Thảo (Hà Nội) trong một bài giới thiệu về vị thuốc này chia sẻ: Các nghiên cứu lâm sàng tại Trung Quốc cho thấy, rễ cỏ tranh có tác dụng tương đối tốt trong việc hỗ trợ điều trị viêm thận cấp, giúp rút ngắn thời gian điều trị. Đối với viêm thận mạn tính, rễ cỏ tranh với tác dụng lợi niệu, tiêu thũng và hạ huyết áp nhất định.
    Để hỗ trợ điều trị viêm thận cấp, sắc 200g bạch mao căn với 500ml nước, đun nhỏ lửa, đến khi còn lại 100-150ml thì dùng được, chia thành 2-3 lần uống, dùng hết trong ngày. Uống liên tục trong 1 tháng sẽ thấy hiệu quả khá rõ rệt.
    Hoặc, bạn cũng có thể dùng sinh mao căn kết hợp với mã đề, kim ngân hoa, cam thảo nam, kim anh tử, đậu đen, hoàng đằng, kinh giới, cỏ mần trầu để cho hiệu quả tốt hơn. Các loại trên mỗi vị 10g, đổ vào 3 bát nước, sắc còn khoảng 1 bát, uống sau bữa ăn, dùng hết trong ngày. Uống liên tục trong 15 ngày.
    Những người gan yếu do hút thuốc, uống rượu bia nhiều hoặc các rắc rối về chức năng gan, có thể dùng các bài thuốc từ rễ cỏ tranh để thanh lọc, giải độc, làm mát gan. Bạn có thể dùng rễ cỏ tranh để nấu nước uống theo cách sau: Lấy 200g sinh mao căn sắc với 700ml nước, đun to lửa, khi nước sôi thì giảm nhỏ lửa đun tiếp 7-10 phút, lọc lấy nước, uống thay chè, dùng trong ngày. Uống liên tiếp 10-15 ngày. Bạn có thể nghỉ một thời gian rồi uống lặp lại 10-15 ngày nữa.
    Mao căn cũng có thể nấu với thịt lợn nạc để làm thành món ăn bài thuốc. Dùng 150g sinh mao căn, 50g bạch anh tươi, 150g thịt lợn nạc thái lát mỏng. Cho vào nồi đun nhừ, nêm gia vị vừa đủ, ăn 1 lần/ngày, liêu tục trong 10-15 ngày.

    Và nhiều công dụng khác

    Không chỉ dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh về gan thận, rễ cỏ tranh còn có mặt trong nhiều bài thuốc khác:
    • Chảy máu cam: Dùng 36g bạch mao căn, 18g chi tử sắc với 400ml nước, đến khi còn 100ml, uống nóng sau ăn hoặc trước khi ngủ. Nếu dùng sinh mao căn thì cần dùng 80g, sắc nước uống hàng ngày, uống khi nguội sau bữa ăn, kéo dài 7-10 ngày.
    • Hen suyễn: Sắc 20g sinh mao căn, uống sau khi ăn tối khi thuốc còn ấm, dùng trong 8 ngày.
    • Lợi tiểu: Bạch mao căn 30g, râu ngô 40g, xa tiền tử 25g, hoa cúc 5g, tất cả trộn đều. Mỗi lần lấy 50g hãm với 0,75ml nước sôi, uống trong ngày; dùng trong 10 ngày. Bạn cũng có thể dùng 50g sinh mao căn, 15g lá sen cạn, 10g râu ngô, 10g rau má, 8g rau diếp cá, sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Dùng 3-5 ngày.
    • Tiểu ra máu (do nhiễm trùng đường tiết niệu): Dùng mao căn thán, gừng (đã sao cháy) sắc với 400ml nước còn 100ml, uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng trong 7-10 ngày.
    Lưu ý: Người hư hỏa, phụ nữ mang thai không nên dùng rễ cỏ tranh